٭ GIA PHONG QUI NGƯỠNG TÔNG: Qui Ngưỡng tông có chín mươi sáu tướng tròn, gia phong tương đối ôn hòa, chẳng giống sự mãnh liệt của Lâm Tế tông. Trong Nhơn Thiên Nhãn Mục nói về gia phong Qui Ngưỡng tông là “Cha từ con hiếu, trên lệnh thì dưới tùng, người muốn ăn cơm ta liền bưng canh; người muốn qua sông ta liền chèo thuyền, cách núi thấy khói liền biết là lửa; cách tường thấy sừng liền biết là trâu”. Còn Pháp Nhãn Thiền sư Thập Qui Luận rằng: “Qui Ngưỡng thì vuông tròn mặc khế, như tiếng dội trong hang, như phù hợp luật lệ thông qua cửa ải”. Truyền Đăng Lục Qui Sơn truyện rằng: Phổ thỉnh hái trà, Sư (Qui Sơn) nói với Ngưỡng Sơn rằng: Suốt ngày hái trà, chỉ nghe tiếng ngươi, chẳng thấy hình ngươi, xin hiện bổn hình ra xem!
Ngưỡng Sơn lắc cây trà.
Sư nói: Ngươi chỉ được cái dụng, chẳng được cái thể.
Ngưỡng Sơn nói: Chưa rõ Hòa thượng thế nào?
Sư giây lâu.
Ngưỡng Sơn nói: Hòa thượng chỉ được cái thể, chẳng được cái dụng.
Sư nói: Cho ngươi hai mươi gậy.
Ngưỡng Sơn nói: Gậy Hòa thượng con ăn, gậy con bảo ai ăn?
Sư nói: Cho ngươi ba mươi gậy. Ngữ Lục của Chơn Tịnh thiền sư sau khi trụ trì Động Sơn có ghi: “Thượng đường kể: Thuở xưa Diêm Quan thường dạy Tăng về pháp môn kiến tánh, nghe nói Qui Sơn cũng vậy, liền sai hai vị Tăng đi dọ thám, đến nơi tọa hạ, nghe trăm điều đề xướng đều chẳng hiểu, lại sanh tâm khinh mạn. Một hôm gặp Tiểu Thích Ca (Ngưỡng Sơn) nói: “Ngươi chớ tâm thô”. Tiểu Thích Ca bèn làm một tướng tròn, hai tay đưa ra, hai Tăng cũng chẳng hiểu, Tiểu Thích Ca nói: “Ngươi chớ tâm thô” liền bỏ đi.
Sư Chơn Tịnh nói: “Tiểu Thích Ca tam muội, hai vị Tăng chẳng biết, dưới cửa Động Sơn có kẻ nào biết chăng? Là tam muội gì?” Giây lâu, Ngài nói tiếp: “Làm mì cần xứ trồng lúa mạch, ca nhạc nên tôn người Đế Hương” (Nhạc thần của Đế Thích).
٭GIA PHONG VÂN MÔN TÔNG: Người sáng lập Vân Môn tông là tổ Văn Yểm, ban sơ tham vấn ngài Mục Châu phát minh tâm địa sau tham ngài Tuyết Phong, thấu được áo chỉ bèn nối pháp Tuyết Phong. Gia phong của Mục Châu mãnh liệt bén nhọn, mà gia phong của Tuyết Phong thì ôn hòa, huyền ảo, Văn Yểm kế thừa sở trường của hai nhà, phát huy Tông chỉ vi diệu đặc biệt, trụ núi Vân Môn Thiều Châu, đồ chúng thường hơn ngàn người, kẻ nối pháp sáu mươi mốt người. Gia phong của Vân Môn thẳng tắt, thường dùng ba chữ Cố (nhìn), Giám (xem), Ỷ (chê) để khám xét người học; còn có Vân Môn Bát Yếu: một Huyền, hai Tùng, ba Chơn Yếu, bốn Đoạt, năm Hoặc, sáu Quá, bảy Tán, tám Xuất. Pháp Nhãn Thiền Sư Thập Qui Luận xưng ngài Vân Môn là “Hàm cái triệt lưu”, nói gia phong nhà họ giống như nước sông đang chảy gấp mà đột nhiên dừng lại. Văn Yểm có tự làm bài kệ rằng: Vân Môn chót vót trên đám mây,
Cá chẳng dám trụ, nước chẳng bay,
Vào cửa đã biết ôm kiến giải,
Đâu phiền kể lại sình bánh xe. Đệ tử ngài Vân Môn là Viên Minh thiền sư có bài kệ tụng ba câu của Vân Môn rằng: 1/ Hàm cái càn khôn: Càn khôn và vạn tượng,
Địa ngục với thiên đường.
Vật vật đều trực hiện,
Mỗi mỗi chẳng đúng sai. 2/ Triệt đoạn chúng lưu: Đầy núi đầy biển lại,
Mỗi mỗi đều trần ai.
Lại muốn lập huyền diệu,
Ngói bể băng tiêu ngay. 3/ Tùy ba trục lãng: Cách hỏi dù biện tài,
Cao thấp đáp chẳng sai.
Cũng như thuốc đúng bệnh,
Chẩn trị lúc lâm thời. - Riêng hỏi ngoài ba câu: Đương nhơn nếu đề xướng,
Ba câu đâu thể gồm.
Có hỏi việc thế nào,
Nam Nhạc và Thiên Thai. Ngài Trí Môn làm bài tụng “Rút chữ Cố” rằng:
Vân Môn rút cố cười hi hi,
Suy nghĩ bị nó cố giám ỷ.
Dẫu cho Trương Lương nhiều kế sách,
Cuối cùng ở đây cũng khó thi (hành).
٭ GIA PHONG PHÁP NHÃN TÔNG: Người sáng lập là Thanh Lương Văn Ích thiền sư, trụ trì Kim Lăng Thanh Vương Tự, học giả bốn phương tấp nập tìm đến tham học, hình thành một Tông phái trong Thiền tông.
Gia phong của Pháp Nhãn tông có Lục Tướng và Tứ Liệu giản dùng để tiếp dẫn hậu học. Tứ Liệu Giản tức là Văn văn (phóng), Văn bất văn (thu), Bất văn văn (minh), Bất văn bất văn (ám).
٭ GIA PHONG TÀO ĐỘNG TÔNG: Tào Động tông đúng ra phải xưng là Động Tào tông, do Động Sơn Lương Giới thiền sư và đệ tử là Tào Sơn Bổn Tịch thiền sư sáng lập. Ngài Lương Giới thọ tâm yếu nơi Vân Nham thiền sư, sau trụ trì Động Sơn Phổ Lợi viện ở Dự Chương, đề xướng Ngũ Vị để tiếp dẫn hậu học. Ngũ Vị là: Chánh trung thiên, Thiên trung chánh, Chánh trung lai, Thiên trung chí, Kiêm trung đáo. Ngòai ra còn có bài Bửu Cảnh Tam Muội Ca. Động Sơn gia phong miên mật, trong số đệ tử thượng thủ, ngài Tào Sơn Bổn Tịch đắc tâm truyền, trụ trì Tào Sơn Sùng Thọ viện ở Võ Châu, xướng dương yếu khuyết Ngũ Vị, người học đến tấp nập, người đời xưng là Tào Động tông. Pháp Nhãn Thiền Sư Thập Qui Tụng rằng: “Tào Động là xướng họa làm dụng”, bởi gia phong một vấn một đáp, qua lại miên mật, so với cơ phong thẳng tắt của Lâm Tế ý thú khác xa. Nên người xưa có lời nói “Lâm Tế tướng quân, Tào Động nông dân”. Vì gia phong Lâm Tế như tướng chỉ huy binh lính trăm vạn, mà gia phong Tào Động thì như kẻ nông phu canh tác ruộng đất rất chu đáo vậy. Có Tăng hỏi Phần Dương Thiện Chiêu thiền sư: Thế nào là Chánh trung lai?
Đáp: Bông sen nở đầy trên đất khô.
Hỏi: Sau khi nở thế nào?
Đáp: Nhụy bông Kim Liên hứng sương ngọc, cao Tăng chẳng tọa đài Phượng Hoàng.
Hỏi: Thế nào là Chánh trung thiên?
Đáp: Mặt trăng chiếu sáng đầu đêm rồi, gà gáy phải báo trước canh năm.
Hỏi: Thế nào là Thiên trung chánh?
Đáp: Mầm nhỏ thành cây to, giọt nước làm sông ngòi.
Hỏi: Thế nào là Thiên trung chí?
Đáp: Ý khí chẳng đắc từ thiên địa, anh hùng đâu nương thời thế thành.
Hỏi: Thế nào là Kiêm trung đáo?
Đáp: Ngọc nữ dệt vải thuyền ọt ẹt, người đá đánh trống tiếng đùng đùng. Sư vì Tăng xin hỏi Ngũ Vị, bèn tụng ra từng vị rằng: Chánh trung lai: Bửu kiếm Kim Cang vạch trời ra,
Một tia thần quang khắp thế giới,
Phẩm tánh sáng tỏ tuyệt trần ai. Chánh trung thiên: Cơ phong sấm sét nháy mắt nhìn,
Lửa đá điện chớp chậm trể thay!
Suy nghĩ đo lường xa ngàn dặm. Thiên trung chánh: Hãy xem Luân Vương ban chánh lệnh,
Bảy ngàn Thái Tử đều theo hầu,
Giữa đường một mình tìm gương vàng. Thiên trung chí: Sư tử ba tuổi oai thế sẵn,
Thiên tà bá quái ló đầu ra,
Rống lên một tiếng đều hàng phục. Kiêm trung đáo: Hiển bày vô công chớ tạo tác,
Trâu gỗ bước đi trong lửa hồng,
Thật là Pháp Vương diệu trung diệu. Còn Ngũ Vị Tụng của Từ Minh Sở Viên thiền sư rằng: Chánh trung thiên: Gà đen nửa đêm gáy trong phòng,
Đáy biển đốt đèn thế giới sáng,
Tảng đá trồng bông mọc cây linh. Thiên trung chánh: Mặt trời lặn xuống hiện bóng lạ,
Ảnh tượng rõ ràng hiển Tông thừa,
Lông mày chớ nhìn trăng trong giếng. Chánh trung lai: Ngựa gỗ sanh con khắp thiên hạ,
Mặt tình dẫn dắt đi đường chim,
Há chẳng người nương ổ chim ở. Kiêm trung chí: Mỗi mỗi trượng phu có ý khí,
Mâu thuẫn chống nhau chẳng vết thương,
Tung hoành khai triển chẳng lìa nhau. Kiêm trung đáo: Trắng đen chưa rõ chớ tạo tác,
Phải biết trụ cột chưa sanh con,
Chớ nhận lời cuồng ngưng nữa đường. Trên đây là gia phong đại khái của Tào Động tông.
Người xưa có bình luận Ngũ gia gia phong rằng: Tào Động đinh ninh, Lâm Tế thế thắng, Vân Môn thẳng tắt, Pháp Nhãn linh xảo, Qui Ngưỡng trao nhau. Còn Bạch Vân, Pháp Diễn thiền sư trong Ngữ Lục có luận về Ngũ gia gia phong rằng: Tăng hỏi: Thế nào là việc Lâm Tế?
Đáp: Ngũ nghịch nghe sấm sét.
Hỏi: Thế nào là việc Vân Môn?
Đáp: Cờ đỏ lấp lánh.
Hỏi: Thế nào là việc Tào Động?
Đáp: Gởi thơ chẳng đến nhà.
Hỏi: Thế nào là việc Qui Ngưỡng?
Đáp: Bia gẫy nằm đường xưa.
Tăng lễ bái.
Sư nói: Sao chẳng hỏi việc Pháp Nhãn?
Tăng nói: Để giành cho Hòa thượng.
Sư nói: Người tuần phạm luật giới nghiêm. Sư nói tiếp: “Ngộ thì việc đồng một nhà, chẳng ngộ thì muôn ngàn sai biệt, một nửa ăn bùn ăn đất, một nửa ăn mạch ăn mè, hoặc là hàng long phục hổ, hoặc là lượm sò vớt tôm. Hòa Sơn chỉ biết đánh trống, Bí Ma luôn luôn giơ chỉa. Nói chung một tuồng hát cười, đều do mỉm cười niêm hoa, đồ bỏ trong đám Bạch Vân, gió xuôi xả đất, xả cát, nếu chẳng tâm can thế này, sao được áo gấm vinh qui! Vậy một tiếng Vinh Qui nên nói thế nào? Vinh hoa hôm nay người chẳng biết mười năm trước là một thư sinh”. Còn thượng đường nói: “Đạt Ma từ bên Tây đến, việc lâu nhiều biến đổi, con cháu đời sau gia phong vô hạn, nhiễu loạn thân tâm, một đống chỉ mành. Bạch Vân hôm nay thảy đều cắt đứt.
Đại chúng! Một trăm lẻ năm ngày thanh minh, Thượng nguyên nhất định là rằm tháng giêng”. Nên biết nói gia phong chỉ là phương tiện tùy nghi của chư Tổ dùng để tiếp dẫn hậu học. Gia phong dù theo người mà khác, nhưng Phật tánh thì ngàn xưa chẳng đổi, kẻ ngộ thì thấu qua như một, chẳng ngộ thì lại thêm lắm rối. Pháp Nhãn tông truyền sang Cao Ly, Vân Môn tông thất truyền đã lâu, nay chỉ còn ba tông Qui Ngưỡng, Tào Động, Lâm Tế; nhưng con cháu của các Tông, chỉ lấy cội nguồn gia phổ để truyền thừa với nhau, ghi tên trên pháp quyển là thiền sư đời thứ mấy mà thôi, nếu hỏi về gia phong tông chỉ thì ngơ ngác chẳng thể trả lời. Nên khuyên người học đời nay, hễ được minh tâm kiến tánh liền được liễu thoát sanh tử, nối tiếp huệ mạng của chư Phật chư Tổ, với chư Phật chư Tổ nắm tay cùng đi, đâu cần phân chia tông phái chi nữa!