Thế giới quan của Phật là Thành, Trụ, Hoại, Không, vì vạn vật đều đang lưu chuyển, đang biến hóa chẳng ngừng, đang ở trong quá trình sanh thành và tiêu diệt, ấy là phép biện chứng đơn sơ của nguyên thủy.
Phép biện chứng của người Hy Lạp thời xưa đối với toàn thể quan hệ giữa các thứ hiện tượng trên thế giới và trong sự cá biệt cũng chưa được sáng tỏ, trong khi đó Thập nhị nhân duyên của Phật pháp lại thỉết minh thành một thế hệ hoàn hảo hơn.
Phép biện chứng của Phật là muốn nhắc nhở những quan niệm và lập trường của Bà La Môn và các tông phái khác (tức là những truyền thống tôn giáo và thần thoại) để họ tự xét lại.
Nhà triết học Hy Lạp Heraclitus (535 - 475 trước Tây lịch) nói : “Mặc dù đang yên tịnh kỳ thực đang biến hóa”. Lời này giống như Duy thức học. Lại nói : “Thần là ban ngày cũng là ban đêm, là mùa đông cũng là mùa hè, là chiến tranh cũng là hoà bình, là no cũng là đói, là tất cả đối lập”. Chữ Thần của ông nói tức là nhất niệm vô minh vậy.
Plato mặc dù cho lý niệm là bản chất của tồn tại, là thế giới nguyên hình hiện thực của tất cả vật thể và quan hệ, chỉ có lý niệm mới là cao nhất, chân thật nhất, nhưng ông lại nói :
“Lý niệm chỉ có thể từ khái niệm của tư duy đắc được, quyết chẳng thể từ trong khái quát của kinh nghiệm cảm giác, nắm lấy được nhận thức chân chính”.
Khoa học thì chẳng thể chỉ từ cảm giác mà được, cần phải từ nguồn suối tư duy của phép biện chứng mới được. Còn ông Plato lại cho là lìa khỏi cảm giác toàn nhờ tư duy có thể đắc được tuyệt đối.
Kỳ thực, cảm giác cố nhiên chẳng thể đạt đến tuyệt đối, tư duy cũng chẳng thể đạt đến tuyệt đối vậy.
Học thỉết hiện tượng biến động của Aristote rõ ràng phản ảnh ở trong học thỉết đối lập vật của ông. Cái tư tưởng về đối lập vật thống nhất (giống như lý bất nhị) là công lao vĩ đại của nhà triết học Hy Lạp này.
Aristote đối với tư tưởng Hữu và phi Hữu, thấy cùng một tính chất thống nhất, ông dù có mãnh liệt đấu tranh nhưng lại chẳng thể tiến thêm một bước để giải quyết, ông mặc dù muốn nghiên cứu tính chất của mâu thuẫn lại không thiết tha thực hành theo.
Trong triết học Tây phương, luận về sự nhị nguyên và thỏa hiệp sở dĩ lọt vào sự mâu thuẫn đều tại chưa thể chân chính đạt đến tuyệt đối mới sanh ra kết quả như vậy.
Tổ sư của Thiền Tông đều là nhà thực tiễn mà chẳng phải nhà lý tưởng, họ rất phản đối ảo tưởng hoặc mộng tưởng. Thiền Tông đem tất cả tâm và vật đều biến thành tuyệt đối vô hạn và hoàn toàn chứng thực nó.
Bản thân thực thể của Spinoza ở trên bản chất đã có tánh chất của hình nhi thượng học, nó siêu việt thời gian mà tồn tại, bất vận động bất biến hóa, phủ định tất cả vận động vì chỉ là trạng thái biến hình của thật thể. Thật thể bản thân lại có cái tánh chất bất động của trừu tượng. Thật thể lìa khỏi vật hữu hạn của thế giới biến hóa mà tồn tại và đã đi trước trên thế giới này.
Kỳ thật, thực thể này chỉ là không tưởng nên mới có mâu thuẫn như vậy. Vì bản thể này là do suy nghĩ sanh ra, chẳng phải đích thân thấy bản thể của tuyệt đối vốn sẵn có nên không thể đạt đến tự do của tuyệt đối.
Có người cho rằng người lý trí nhiều chừng nào thì lìa khỏi sự thực nhiều chừng nấy, đúng “logic” nhiều chừng nào thì phản bội tự nhiên nhiều chừng nấy. Nhận định này hợp với nguyên tắc của tương đối, do có người chủ trương dùng trực giác, tưởng làm như thế thì có thể gần với chân thật.
Kỳ thật trực giác và lý trí cùng ở trong phạm vi nhất niệm vô minh, trực giác mặc dù gần với nguyên thủy của nhất niệm vô minh hơn nhưng vẫn chẳng thể tiến vào tuyệt đối. Giữa trực giác và tuyệt đối còn có một khoảng sa mạc mênh mông ngăn cách, trực giác không cách nào thông qua được.
Nhà triết học Pháp Henry Bergson (sanh 1859 tại Paris) chính là người chủ trương dùng trực giác để đạt đến chân thật, ông mong muốn ở trong phương pháp huyền học Đông Phương tìm ra một đường lối nhưng ông không hiểu phương pháp chứng nhập tuyệt đối của Phật và có thể vì hiểu lầm thiền pháp của Bà La Môn mới có chủ trương này, nên ông đã bị thất bại vậy.
Người ta thường xem vật ở bên ngoài cho là tự nhiên. Kỳ thực cái tên gọi tự nhiên chỉ là do một người có học thức danh tiếng nào đó đặt ra cái tự nhiên của tự mình mà thôi.
Vậy tự nhiên là gì ? E rằng chỉ có Phật Thích Ca mới chân chính hiểu biết. Chỉ có Phật mới rõ cái mặt mũi bổn lai của tự nhiên, nó ẩn giấu sau lưng của vũ trụ tương đối, ở ngoài phạm vi giới hạn của tư tưởng cảm giác con người tức là bản thể của tuyệt đối vậy.
Phật Thích Ca gọi bản thể này là Phật Tánh, là Chân Như, là Như Lai. Nói Chân Như tức là chân thật như bản thể, nói Như Lai tức là bổn lai như thế.
Khi tất cả sự vật trong cảm giác của con người giải phóng ra rồi thì tất cả trở về Bản Lai Diện Mục (Tự Tánh) ấy mới là tự nhiên của chân chính.
Nếu người ta muốn thấy cái tự nhiên chân chính này chỉ có cách đả phá cội nguồn của tương đối (vô thỉ vô minh) thì sẽ tiến vào quốc độ của tự nhiên tuyệt đối vậy.
Pierre Joseph Proudhon (1809 - 1865) người Pháp nói : “Tài sản tức là tang vật”. Tôi thì nói : Tư tưởng tức là tang vật”, vì nó ô nhiễm tự tánh, nó là tang vật của tự tánh trong sạch.
Hỡi con người đáng thương xót kia ! Tại sao ông lấy tang vật của ông mà tự hào vậy ? Những đồ ô uế, hôi thối khắp trời kia, con ruồi đáng thương xót kia sao ông vĩnh viễn không muốn lìa khỏi nó, cho đến mất cả sinh mạng, mà cũng không chịu lìa !
Ông muốn nhận thức nhất niệm vô minh chăng ? Nay tôi giải thích thêm để ông dễ hiểu hơn : Khi ông an lạc thì nó gọi là an lạc, khi ông thống khổ thì nó gọi là thống khổ, khi ông bi ai thì nó gọi là bi ai, khi ông phẫn nộ thì nó gọi là phẫn nộ, khi ông yêu thì nó gọi là yêu, khi ông ghét thì nó gọi là ghét, khi ông tham thì nó gọi là tham, khi ông sân thì nó gọi là sân, khi ông si thì nó gọi là si, khi ông cảm thấy hạnh phúc thì nó gọi là hạnh phúc, khi ông cảm thấy tội lỗi thì nó gọi là tội lỗi, khi ông v.v... nói tóm lại tất cả đều là hóa thân của nhất niệm vô minh. Nhất niệm vô minh biến hóa vô thường đều là tương đối, cho nên những hóa thân của nó cũng là tương đối.
Con người bị nhất niệm vô minh chi phối mà tự chẳng biết, suốt ngày mừng, giận, buồn, vui biến hóa không chừng, nên nhà triết học Đông Phương nói : “Con người ứng dụng hằng ngày mà chẳng tự biết”. Thêm nữa, nhất niệm vô minh là do một niệm bắt đầu mà phát triển thành vũ trụ phức tạp của tương đối bao gồm sinh mạng, tư tưởng, cảm giác, dục vọng, ý chí, đạo đức, nhân nghĩa v.v... Nó hiện diện khắp không gian, thời gian, không chỗ nào lúc nào mà không có nó, cho đến khi nó trở về vô thỉ vô minh mới tạm ngưng hết lại. Đến đây chỉ cần đả phá vô thỉ vô minh để tiến vào tuyệt đối mà thôi.