Sư nói : - “Nếu là Phật pháp thì ở đây ta cũng có chút ít”.
Hội Thông nói : - “Thế nào là Phật pháp của Hòa Thượng ?”.
Sư liền ở trên áo mình nhổ một sợi lông vải thổi một cái “ù”, Hội Thông ngay đó khai ngộ.
Công án này tức là pháp Thiền trực tiếp truyền từ Phật Thích Ca cũng là ở trong sát na, từ quốc độ tương đối bước vào quốc độ tuyệt đối vậy.
Hễ vào được cảnh giới tuyệt đối thì những cái bị phủ định như ngã, vạn hữu, các pháp v.v… đều biến thành tuyệt đối, hoàn toàn được thừa nhận trở lại. Đến đây tất cả đều là cảnh giới chân thật, nên trong kinh Đại Niết Bàn nói : “Thấy Nhất Thiết Không chẳng thấy Bất Không chẳng gọi là Trung Đạo (1) cho đến thấy Nhất Thiết Vô Ngã chẳng thấy có Ngã cũng chẳng gọi là Trung Đạo”.
Trung đạo gọi là Phật Tánh(2) vì phủ định nên không, vì thừa nhận nên bất không, vì phủ định nên vô ngã, vì thừa nhận nên có ngã.
Có thể phủ định mà chẳng thể thừa nhận là người Tiểu thừa.
Có thể phủ định mà cũng có thể thừa nhận là người Đại thừa.
(1) Trung Đạo : Nghĩa thường là không có nhị biên tương đối, nói sát nghĩa hơn là Vô sở trụ, cũng như chẳng trụ nơi có, chẳng trụ nơi không, chẳng trụ nơi cũng có cũng không, chẳng trụ nơi chẳng có chẳng không, gọi là Trung Đạo.
(2) Phật Tánh : Phật nghĩa là giác ngộ, có tánh giác ngộ, gọi là Phật tánh.
Chẳng nói phủ định cũng chẳng nói thừa nhận là Phật.
Lúc phủ định thì nhất vọng nhất thiết vọng, khi thừa nhận thì nhất chân nhất thiết chân. Khi chưa lìa tương đối thì tất cả đều tương đối, đã vào tuyệt đối thì tất cả đều tuyệt đối, chẳng phải ngoài tương đối có tuyệt đối, chẳng phải ngoài tuyệt đối có tương đối, nên Uế Độ tức là Tịnh Độ, Địa Ngục tức là Thiên Đàng, Phiền Não tức là Bồ Đề(1),Chúng Sanh tức là Chư Phật. Nói tóm lại Tương Đối tức là Tuyệt Đối, tất cả bình đẳng gọi là pháp môn Bất Nhị(2), cũng gọi là Nhất Thừa(3), như trong kinh Pháp Hoa nói :
“Trong mười phương quốc độ chỉ có pháp Nhất Thừa, chẳng hai cũng chẳng ba, trừ phương tiện của Phật, chỉ dùng giả danh tự, dẫn dắt cho chúng sanh, duy nhất sự thật này, ngoài ra đều chẳng chân” là nghĩa này vậy.
Đến đây, nên ghi nhớ rằng cảnh giới tuyệt đối chân như chẳng phải văn tự lời nói có thể diễn đạt, nên Phật Thích Ca thỉết pháp xong liền phủ định ngay, nói rằng : “Ta 49 năm thỉết pháp chưa từng nói một chữ”, lại nói : “Ta từ đêm ấy đắc Chánh giác, cho đến đêm ấy nhập Niết Bàn chẳng thỉết một chữ nào cả”, lại nói : “Ta đối với Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cũng chẳng được một chút pháp nào cả”.
(1) Bồ Đề : Là tiếng Phạn, dịch nghĩa là giác ngộ.
(2) Pháp môn bất nhị : Bất nhị có nghĩa hiển bày thể dụng của Tự Tánh cùng khắp không gian và thời gian chẳng thể dùng tư tưởng để suy lường nên vượt ra ngoài đối đãi và cũng chẳng phải Một. Pháp môn tu tập để đưa đến chỗ bất nhị này gọi là pháp môn Bất nhị.
(3) Pháp nhất thừa : Tức là Phật thừa. Kinh Pháp Hoa nói chẳng hai cũng chẳng ba là nghĩa này vậy.
Các giới tư tưởng Tây Phương ít thấy người đến gần chỗ tuyệt đối là vì đường lối thực hành chẳng đồng. Chỉ có nhà Triết học Hy Lạp, Parmenides, tư tưởng ông này đến gần chỗ tuyệt đối hơn những triết gia khác. Sự giải thích bản thể tuyệt đối của ông giống như lời Phật Thích Ca, ông cho rằng : “Thế giới do cảm giác mà biết được là thế giới hư vọng chẳng thật, chẳng qua là một thứ ảo tưởng, chẳng phải tồn tại chân thật, mà bản chất của vũ trụ duy nhất mới thực tồn tại. Tồn tại tuyệt đối chẳng thể xen lộn với phi tồn tại. Nó là tuyệt đối bất biến, bất động, bất sanh, bất diệt, vô thỉ vô chung, bởi vì giả sử như sự tồn tại mà có bắt đầu thì cái tồn tại ấy nếu không sanh khởi nơi tồn tại ắt cũng phải sanh nơi phi tồn tại. Nếu nói tồn tại sanh khởi nơi tồn tại thì chẳng thể nói có bắt đầu, nếu nói tồn tại sanh khởi nơi phi tồn tại thì thỉết ấy chẳng thông vì cái không có chẳng thể sanh ra cái có (Exnihilo Nihilfit)”.
Lời nói trên là tiêu biểu cho tư tưởng của Parmenides. Ông lại nói : “Sự tồn tại chân thật thì chẳng có quá khứ, hiện tại và vị lai, nó là vĩnh viễn chẳng thể phân chia.
Theo sự thực, ngoài tồn tại chỉ có phi tồn tại. Sự tồn tại là chẳng động, chẳng loạn, vì vận động và nhiễu loạn đều là hiện tượng biến hóa, có biến hóa thì chẳng phải tồn tại. Tồn tại tuyệt đối kỳ thực tự nó như là nó, tồn tại vĩnh viễn như thế quyết chẳng biến đổi, cái bản chất duy nhất của nó là tồn tại. Tồn tại chẳng thể nói là cái này hay cái kia, chẳng thể nói có tánh chất này hay tánh chất kia, cũng chẳng thể nói ở nơi này hay nơi kia, lúc này hay lúc kia. Nó chỉ là tồn tại, tồn tại tức là có (Sness)”. (Cái có này có nghĩa siêu việt số lượng, không nằm trong phạm vi tương đối, nghĩa là chẳng phải đối với không mà nói có).
Rất tiếc rằng, ông ấy (Parmenides) không biết dùng phương pháp nội chiếu để phá vỡ thành trì bế tắc của duy tâm và duy vật và để có thể đạt đến chỗ cảnh giới thực tế của tồn tại. Chứng tỏ sự suy lý của ông đứng trên tuyệt đối mà phát huy thì có thể được kết quả giống như Phật Thích Ca và chẳng lọt vào Nhị nguyên luận, lại nữa tất cả sự tranh luận về duy tâm và duy vật của các nhà Triết học Tây Phương cũng chẳng thể phát sinh. Mặc dù từ xưa nay cả hai phái đều tôn ông ta làm thủy tổ mà cho đến ngày nay con cháu của hai phái vẫn tiếp tục đả kích nhau đến kỳ cùng. Gốc tai họa ấy là do dùng bộ não suy lường vậy.
Cho đến ngày nay, những phương pháp tìm cầu chân lý của các nhà triết học Tây Phương nếu chẳng phải dùng duy tâm thì cũng dùng duy vật. Kỳ thực, duy tâm và duy vật chẳng qua là hai đầu của một sự vật, nghĩa là nằm trong phạm vi tương đối, nếu nhờ nó để suy diễn ra chân lý thì lý ấy đương nhiên cũng là tương đối mà thôi. Ông Parmenides chẳng phải không muốn đem tồn tại thỉết thành một nguyên lý Nhất Nguyên Luận viên mãn nhưng dù biết có Một mới đúng mà khi suy diễn ra, kết quả lại biến thành Hai. Cái sai lầm ấy là do dùng bộ não để phân biệt, suy luận, mà chẳng biết cách dùng bộ não để đập tan vô thỉ vô minh. Cách đó chính là pháp Thiền Trực Tiếp truyền thừa từ Phật Thích Ca, cũng gọi là Bồ Đề Đạt Ma Thiền và ngày nay gọi là pháp Tham Tổ Sư Thiền vậy.
Cũng có nhà triết học Tây Phương họ muốn nghiên cứu về tư tưởng Đông Phương, người đầu tiên chịu ảnh hưởng của Đông Phương là ông Arthur Schopenhauer, mà tiếc rằng ông gặp người Tiểu thừa. Phái Tiểu thừa khiến ông thành bi quan yếm thế, khiến ông phủ định dục vọng, ý chí, khái niệm, thế giới v.v... rốt cuộc chỉ được một chữ “Vô”. Nếu tất cả đã Vô thì sự sống đâu còn ý nghĩa gì ? Ông tiếp tục cái Khổ quán(1) của Tiểu thừa cho rằng dục vọng là nguồn gốc của thống khổ, cho nên phải phủ định dục vọng để đạt đến sự yên tịnh hòa bình. Nhưng ông lại biết dục vọng chẳng thể dứt hẳn, cho nên lọt vào cái hầm sâu bi ai. Rất tiếc ông không gặp người Đại thừa, nếu ông gặp được thì sẽ cảm thấy đời sống phong phú đầy đủ ý nghĩa, ắt sự thành tựu của ông sẽ vĩ đại hơn.
(1) Khổ quán : Cho tất cả là khổ. Khổ tức nhiên là khổ rồi, vui lại làm nhân cho khổ nên cũng là khổ.
Tinh nghĩa của Phật Pháp ở nơi Thực Tướng, Thực Hành, Thực Dụng, nhưng học giả Tây Phương lại đặt cái tên gọi là Hư vô (Buddhistic Nihlism) thực là sai lầm lớn. Ấy là vì học giả Tây Phương chưa rõ được giới hạn Tam thừa của Phật pháp mà lại lấy lý Tiểu thừa cho là toàn bộ tư tưởng của nhà Phật. Chúng ta xem nhà triết học Arthur Schopenhauer lọt vào tiêu cực thì biết.
Thế nào gọi là tuyệt đối ? Tuyệt đối tức là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì nói Phật tánh chẳng có gì để so sánh và thí dụ được, như trong kinh nói : “Ví như chân như chẳng thể thí dụ”.
Ông biết được bản thể cuối cùng của vũ trụ chăng ?
Ông biết được thực tướng của một hạt cát chăng ?
Cũng như ông Newton nói : “Sự hiểu biết của tôi còn không bằng một hạt cát trên bãi biển”. Người ta vì câu nói này mà khâm phục ông là một nhà khoa học rất vĩ đại và khiêm tốn. Kỳ thật, ông Newton đã có phần tự hào, tự tin, đánh giá phần tri thức của mình quá cao rồi vậy. Nếu ông ấy chứng nhập tuyệt đối thì sẽ biết lời nói trên là sai mà nên nói lại như vầy : “Tôi đối với thực tướng của một hột cát cũng không biết một chút nào cả”.
Bởi vì sự phát minh của tất cả nhà khoa học và triết học chẳng qua là chân lý tương đối, chân lý có giới hạn, chẳng phải chân lý tuyệt đối cuối cùng và vô hạn. Vì định luật của ông Newton kiến lập đã bị Einstein lật đổ và định luật của Einstein kiến lập sau này cũng có thể bị người khác lật đổ. Cái chân lý mà có thể bị lật đổ thì đâu còn giá trị gì nữa.
Khi con mắt thần linh của tuyệt đối nhìn thẳng tất cả chúng sanh thấy mỗi mỗi đều đang đoán mò hoặc cắm cúi dùng kính hiển vi hoặc là dùng tư tưởng suy lường, với tất cả tinh thần siêng năng làm việc, mong phát hiện được một chân lý nào, thì thấy buồn cười rằng : “Dẫu cho các ông vận dụng hết tim óc vẫn chẳng biết một tí gì về ta. Bởi vì các ông dùng tư tưởng, cảm giác là tương đối, tương đối chẳng thể biết tuyệt đối, cho nên ông là ông, ta là ta, ông muốn nhận thức tất cả trước tiên nên nhận thức ta, nếu không nhận thức ta thì ông chẳng thể nhận thức tất cả. Nhưng chỉ khi nào ông buông bỏ tất cả tìm cầu, buông bỏ tất cả hình thức và danh tự mà dùng tâm hồn trong sạch để nội chiếu, khi cơ duyên đến hoát nhiên đại ngộ(1), khi ấy ông sẽ tự buồn cười rằng : “À, mình vốn là nó”.