Trong kinh điển Đại thừa của Phật Thích Ca luôn luôn biểu thị tuyệt đối, lịch đại Tổ Sư thường dùng hét, gậy, chửi mắng cũng để biểu thị tuyệt đối. Các Ngài gặp mặt trình nhau trọn vẹn đưa ra, chỉ đáng tiếc là ông không chịu thừa đương, chẳng thể lãnh ngộ mà thôi. Ví như Phật Thích Ca đem pháp Thiền trực tiếp của Đại thừa tuyệt đối truyền lại cho người đời sau, ấy là kinh nghiệm quý báu của Ngài tự đã chứng qua, nếu ông không chịu theo phương pháp ấy thực hành thì cũng như có chìa khóa mà không chịu mở khóa rương thì làm sao đắc được bảo vật trong rương vậy.
Hai câu danh tiếng : “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc” trong Bát Nhã Tâm Kinh thường bị một số người hiểu lầm lạm dụng dẫn chứng giải thích bậy bạ. Theo đúng ý kinh là : “Hiện tượng tức là Bản thể, Bản thể tức là Hiện tượng”, bởi vì lúc ấy tất cả hiện tượng và sắc chất chướng ngại đều biến thành tuyệt đối mà chẳng thể phân chia, tinh thần và vật chất đến đây đều biến thành bản thể của tuyệt đối, Duy tâm luận với Duy vật luận đến đây mới bỏ hết oán thù từ xưa nay, hai phái hoan hỉ hòa hợp thành một chẳng còn gì khác biệt nữa. Ấy là công lao vĩ đại của Phật Thích Ca nay tôi trình lại với đại chúng xem cho minh bạch.
Thiền Tông vốn không có áo ngoài bởi vì họ dùng “Bất lập văn tự chỉ thẳng tâm người” làm Tông chỉ. Nếu chúng ta nhất định muốn tìm ra cái áo ngoài của Thiền tông vậy thì những cách chư Tổ thường dùng để tiếp dẫn người hậu học như phương pháp hét, gậy, chửi mắng và những lời nói cử chỉ kỳ lạ ghi trong lịch sử Thiền tông tức là cái áo ngoài chẳng thể biết của họ vậy.
Thiền tông cũng là từ tương đối tiến vào tuyệt đối, là pháp thiền rất trực tiếp chẳng phải qua nhiều lớp phủ định, chỉ có một phủ định sau cùng, tức là phương pháp trực tiếp đả phá vô thỉ vô minh thẳng vào quốc độ tuyệt đối chân như. Nhưng sau khi ông tiến vào tuyệt đối thì cái áo ngoài chẳng thể biết ấy ông lại có thể biết được những lời nói cử chỉ kỳ lạ như hét, gậy, chửi mắng v.v... vốn là trực tiếp biểu thị thể dụng của tuyệt đối. Lúc ấy, nhân sinh vũ trụ, vạn sự vạn vật đều trở nên tuyệt đối, đều được khẳng định lại vậy.
Sự phát triển của Phật pháp chia làm bốn giai đoạn để thỉết minh như sau : (xem trang sau)
Triết học Tây phương chỉ có hai giai đoạn Ngã chấp, Pháp chấp ở trong phạm vi nhất niệm vô minh tức là tư duy và lý niệm. Tư duy lý niệm đều là hóa thân của nhất niệm vô minh cũng là tác dụng của bộ não.
|
1. TIỂU THỪA
|
2. TRUNG THỪA
|
3. ĐẠI THỪA
|
4. TỐI THƯỢNG THỪA
|
|
- Giai đoạn ngã chấp
-Chủ quan Duy vật luận
- Phạm vi tương đối tu Tứ Đế
- Ơ trong nhất niệm vô minh
- Thanh Văn dứt lục căn
|
- Giai đoạn pháp chấp
- Chủ quan Duy tâm luận
- Phạm vi tương đối tu Thập Nhị Nhân Duyên
- Ở trong nhất niệm vô minh
- Duyên Giác dứt nhất niệm Vô Minh
|
- Giai đoạn không chấp
- Tâm và vật hợp một
- Phạm vi tương đối tu sáu Ba La Mật
- Đến vô thủy Vô minh
- Bồ Tát phá vô thủy Vô Minh
|
- Giai đoạn thực tướng
- Phi tâm phi vật
- Phạm vi tuyệt đối tham thoại đầu
- Chân Như Phật tánh
- Phật Vạn Đức viên mãn, Vô tu Vô chứng
|
Mục đích của triết học Tây phương ở nơi truy cứu lý, tìm hiểu biết nên không chịu lìa nhất niệm vô minh, tại vì hễ vào phạm vi vô thỉ vô minh thì cảm thấy mênh mông trống rỗng chẳng có lý gì để truy cứu chẳng có điều hiểu biết gì để tìm, trái với mục đích của họ. Nên nhà triết học Tây phương từ xưa nay chưa ai tiến vào cảnh giới vô thỉ vô minh, không vào cảnh giới vô thỉ vô minh thì chẳng thể phá vỡ không chấp cũng chẳng thể tiến vào tuyệt đối.
Mục đích của nhà triết học Tây phương là cứu lý tìm hiểu mà mục đích của người tu trì Phật pháp ở nơi liễu sanh thoát tử.
Triết học Tây phương chú trọng lý luận mà Phật Pháp thì chú trọng thực tiễn nghĩa là từ nhất niệm vô minh tiến thẳng đến tuyệt đối.
Các thứ học thỉết của khoa học, Triết học tung ra đủ loại, bề ngoài so với Phật Pháp hình như phong phú hơn, nhưng đều thuộc về chân lý tương đối, chẳng ai đạt đến tuyệt đối, vì bản thân của nhất niệm vô minh chính là tương đối vậy.
Phật Pháp vì xét thấy nhất niệm vô minh hư huyễn chẳng thật nên siêu việt nhất niệm vô minh, thẳng vào giai đoạn vô thỉ vô minh rồi lại phủ định giai đoạn vô thỉ vô minh để đạt đến bản thể tuyệt đối, cho nên nhà Phật rất chú trọng phương pháp thực hành.
Giai đoạn Ngã chấp : Là giai đoạn Tiểu thừa, người Tiểu thừa cho ngã với thế giới vạn vật đều là thật có, là kẻ chủ quan Duy vật luận, chỉ hướng ngoại quan sát tất cả để lấy cảnh ngoài làm đối tượng để quan sát, cho nên phương pháp của họ cũng là lấy vật làm đối tượng.
Họ xem thế giới vạn vật đều ở trong quá trình thành, trụ, hoại, không, còn loài người thì ở trong quá trình sanh, trụ, dị, diệt, tuần hoàn không dứt. Ở đây họ phát hiện cội nguồn của tương đối, nghĩa là tất cả đều ở nơi sanh thành và hoại diệt, ấy là mâu thuẫn tự nhiên, là vô thường. Tất cả mâu thuẫn và vô thường sanh ra khổ não và bất an. Họ muốn vượt qua vòng này cho nên mong cầu “thường”, mong cầu bất sanh bất diệt, đối với nhân sanh thì mong cầu liễu sanh thoát tử.
Họ cho rằng muốn giải thoát sự mâu thuẫn và khổ não của sanh tử duy có phủ định tự ngã, muốn phủ định tự ngã duy có đoạn diệt lục căn vì tất cả khổ não đều do lục căn chiêu tập vào vậy.
Nhà Triết học Hà Lan Benedick Baruch de Spinoza (1632-1677) cho rằng : “Muốn nghiên cứu hình thái tư duy nhất định của tinh thần con người trước tiên cần phải nghiên cứu sự hoạt động của cơ thể ”. Việc này so với người Tiểu thừa đem khổ não quy về trên lục căn là có chỗ giống nhau vậy.
Giai đoạn Tiểu thừa này thành lập quá trình nhận thức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức gọi là ngũ uẩn(1), cũng là lấy vật làm đối tượng. Sắc tức là hiện tượng tự nhiên của ngoại cảnh. Thọ là lục căn thu nhiếp hiện tượng tự nhiên vào, Tưởng là chịu ảnh hưởng rồi sanh khởi tư tưởng, Hành là do tư tưởng mà hành động, Thức là do kinh nghiệm hành động mà được nhận thức.
(1) Ngũ uẩn : Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sắc là tế bào của cơ thể do tứ đại kết hợp thành. Thọ là lãnh thọ sự buồn, vui, thương, ghét, v.v... của cảm tình, cảm nghĩ. Tưởng là tư tưởng suy lường. Hành là sự sanh diệt biến đổi của tế bào và hành vi. Thức là tác dụng của bộ óc hay nhận thức phân biệt tất cả sự vật sanh diệt trong vũ trụ.
Hai chữ Thanh Văn (Văn Phật Thanh Giáo : nghe tiếng Phật dạy mà ngộ đạo gọi là Thanh Văn), cũng có ý nghĩa duy vật tức là vật (âm thanh) từ bên ngoài vào trong vậy.
Phương pháp dứt lục căn tức là đóng bít cánh cửa tư tưởng, cảm giác khiến trong tâm thanh thanh tịnh tịnh chẳng bị ảnh hưởng bên ngoài. Hiện tượng bên ngoài là mâu thuẫn xung đột, đã chẳng vào được tức là không có “Thọ”, đồng thời đem ý căn ngưng lại thì không có “Tưởng”. Lúc này trong tâm chỉ còn nhất niệm thanh tịnh, nhất niệm này tức là nhất niệm vô minh, nó dù tạm thời ngưng lại nhưng vẫn chẳng thoát khỏi tác dụng của cơ thể, phải chịu hạn chế của thời gian. Cho nên người Tiểu thừa nhập định dù trải qua bao nhiêu thời gian đi nữa cũng chẳng thể duy trì mãi, cần phải xuất định, huống là khi đóng bít các cửa lục căn vẫn cần phải có một niệm thanh thanh tịnh tịnh để duy trì nó cũng là việc cần phải ra sức. Hễ xuất định thì đọa trở lại gông cùm tư tưởng, cảm giác của tự ngã, cho nên người Tiểu thừa mặc dù muốn phủ định ngã chấp nhưng kết quả vẫn không thể vượt ra ngoài phạm vi của ngã chấp.
Nhà triết học Hy Lạp Plato chia ra hai thứ hiện thực, một thứ là thế giới cảm giác của tương đối, một thứ khác là thế giới lý niệm của tuyệt đối (kỳ thực thế giới lý niệm vẫn là tương đối, chưa vượt qua phạm vi nhất niệm vô minh). Ông mong siêu việt thế giới cảm giác mà tiến vào thế giới lý niệm nhưng ông chẳng có cách nào vĩnh viễn sinh tồn nơi thế giới lý niệm của ông, kết quả vẫn đọa lại gông cùm của thế giới cảm giác.
Cái mong cầu siêu việt cảm giác đó cũng giống như người Tiểu thừa. Người Tiểu thừa đem cánh cửa tư tưởng, cảm giác hoàn toàn đóng bít mà Plato thì ở trong tư tưởng khai thác một thế giới khác để mong làm chỗ giấu thân. Nhưng nói đúng sự thực thì thế giới của ông vẫn còn ở trong phạm vi nhất niệm vô minh, chẳng qua chỉ là từ đầu này (cảm giác) chạy qua đầu kia (lý niệm), rốt cuộc vẫn chưa ra khỏi “chuồng người ”.
Cho nên phương pháp phủ định ngã chấp của Tiểu thừa đã thất bại, phải đến bàn tay người Trung thừa phương pháp phủ định ngã chấp mới được hoàn thành.
Giai đoạn Pháp chấp : Người Trung thừa xét thấy sự hướng ngoại quan sát là không đúng, cái kết quả đoạn dứt lục căn của Tiểu thừa chẳng thể siêu việt phạm vi nhất niệm vô minh, do đó quay đầu lại hướng trong tâm quan sát thấy tất cả tương đối đều từ nhất niệm vô minh sanh khởi. Giữa các thứ đối lập có một sự tác dụng liên kết làm nhân duyên với nhau, ly hợp vô thường, khi hợp thì sanh, khi ly thì diệt, ví như cơ thể do tứ đại và ngũ uẩn hợp thành. Tứ đại, ngũ uẩn ly tán thì cơ thể liền tiêu diệt, cơ thể đã diệt thì cái ngã chẳng thể tồn tại, cho nên nói : “Tất cả vạn vật đều là “khởi duy pháp khởi, diệt duy pháp diệt”, ngoài nhân duyên ly hợp ra tất cả đều chẳng thể tồn tại”.
Trung thừa dùng Thập Nhị Nhân Duyên để giải thích quá trình của nhân sanh (tức là vô minh, là nhất niệm vô minh chẳng phải vô thỉ vô minh duyên Hành. Hành duyên Thức, Thức duyên Danh sắc, Danh sắc duyên Lục Nhập, Lục Nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sanh, Sanh duyên Lão Tử), mười hai nhánh này bao gồm quá trình tuần hoàn của tam thế (quá khứ, hiện tại, vị lai).
Vô minh tức là nhất niệm vô minh cũng gọi nhất niệm vọng động tánh, vì bất giác khởi niệm sanh ra các thứ hoạt động gọi là Hành, hai nhánh này là nhân sở tác của kiếp trước ; Thức là do hành động mà tạo thành nghiệp thức, ví như thân Trung ấm bị nghiệp lôi kéo mà đến đầu thai ; Danh Sắc là khi ở trong thai sắc thân chưa thành tựu, bốn uẩn Thọ, Tưởng, Hành, Thức chỉ có tên ; gọi chưa có sắc chất; Lục Nhập là chỗ nhập của lục trần tức là lục căn đã hoàn thành; Xúc là sau khi thai sanh ra lục căn tiếp xúc lục trần ; Thọ là lãnh thọ tất cả hoàn cảnh. Năm nhánh này là quả sở thọ của đời này ; Ái là đối với cảnh trần mống khởi ái dục ; Thủ là do ái mà muốn chiếm có ; Hữu có nghĩa là nghiệp, tức là kiếp này tạo nghiệp kiếp sau thọ báo, ba nhánh này là nhân sở tác của đời hiện tại ; Sanh là tùy theo chủng tử nghiệp đã gieo đời nay mà thọ sanh đời sau; Lão Tử là khi đã có sanh ắt phải có lão tử, hai nhánh này là cái quả đời sau phải chịu. Đó là giải thích Thập Nhị Nhân Duyên theo thuyết xưa.