Lời Dịch Giả
PHẬT pháp là pháp bất nhị, tâm trí không thể đến được, nhưng người đời nay ưa thích đem tâm trí suy lường lời Phật Tổ, nên không đến được chỗ rốt ráo giải thoát.Chúng tôi góp nhặt những lời chân thật của Phật Tổ và Thánh Hiền để chứng tỏ.
“TÂM NGÔN LỘ TUYỆT”. THÍCH DUY LỰC
PHẨM PHỔ MÔN
Có kệ rằng:
“Chơn quán thanh tịnh quán
Quảng đại trí huệ quán
Bi quán cập từ quán
Thường nguyện thường chiêm ngưỡng”.
“Chơn quán” là “Nhị tướng chẳng sanh”.
“Thanh tịnh quán” là “Tận văn bất trụ”, “Giác sở giác không”.
“Quảng đại trí huệ quán” là “không giác cực viên” cho đến “Tịch diệt hiện tiền”.
Với Phật Như Lai đồng một từ lực gọi là “Từ quán "
Với các chúng sanh đồng một bi ngưỡng gọi là “Bi quán”
“Không giác cực viên” tức là trong kinh đã nói : Thân tâm chẳng thể đến.“Sanh diệt đã diệt” tức là trong kinh đã nói : Sanh diệt cả hai đều lìa
“Tịch diệt hiện tiền” tức là trong kinh đã nói : Thế thì thường chân thật.
Lấy kinh để chứng kinh thì nghĩa tự đầy đủ. Ông Tô Tử Do (em của Tô Đông Pha) có luận : Lăng Nghiêm và Kim Cang là hai kinh khế hợp nhau.
Quán Thế Âm dùng văn, tư, tu làm đệ nhất viên thông, có lời nói rằng : “Sơ ư văn trung, nhập lưu vong sở” cho đến “Tịch diệt hiện tiền” Nếu được như thế, trong khảy móng tay thấu qua được ba lớp “Không” tức cùng chư Phật chẳng khác.
Về phần Kinh Kim Cang có nói đến người tứ quả :
- Tu Đà Hoàn : là Nhập Lưu mà chẳng có sở nhập, chẳng nhập sắc, thanh, hương, vị , xúc, pháp, ấy gọi là Tu Đà Hoàn. Cho nên sự chứng của Tu Đà Hoàn đồng với “Sơ ư văn trung, nhập lưu vong sở” cũa Ngài Quán Thế Âm nói :
“Nhập lưu chẳng phải pháp có, chỉ là chẳng nhập lục trần, an nhiên thường trụ, ấy là Nhập Lưu thôi”.
-Cho đến Tư Đà Hàm gọi là “Nhất Vãng Lai” mà thật chẳng có vãng lai.
- Na Hàm gọi là Bất Lai” mà thật chẳng có bất lai, bởi vì “Vãng” thì nhập trần, “Lai” thì trờ về căn bản.
-Tư Đà Hàm dù đã được Vãng Lai mà chưa được chẳng vãng lai. A Na Hàm không những chẳng vãng mà cũng chẳng lai.
Đến A La Hán thì cái ý Vãng Lai đều hết. ‘Vô pháp khả đắc”. Vậy thì tên gọi “Tứ quả” kỳ thực là một pháp. Chỉ trải qua ba lớp “Không”, nên có sự khác biệt của sâu cạn mà thôi.
Vậy lời của hai kinh vốn phù hợp với nhau, mà người thế gian chẳng hiểu nên phải nói trắng ra.
Theo Tăng Phụng Nghi thì Tô Tử Do là người đã gặp thiện tri thức, phát minh ý chỉ hai kinh, dù như mới lạ nhưng phải tự trong lòng phát xuất ra, cho đến câu : “Trong một khảy móng tay … cùng chư Phật chẳng khác” nếu chẳng phải đốn ngộ thì không thể nói lời này được.
GHI CHÚ :
Chấp “Có” thì lấy “Không” để phá, đây là lớp thứ nhất. Chấp “Không” thì lấy “Không Không” để phá, đây là lớp thứ hai. Sau cùng “Không Không” cũng phải quét sạch, đây là lớp thứ ba.