Lời Dịch Giả
PHẬT pháp là pháp bất nhị, tâm trí không thể đến được, nhưng người đời nay ưa thích đem tâm trí suy lường lời Phật Tổ, nên không đến được chỗ rốt ráo giải thoát.
Chúng tôi góp nhặt những lời chân thật của Phật Tổ và Thánh Hiền để chứng tỏ.
“TÂM NGÔN LỘ TUYỆT”. THÍCH DUY LỰC
TIỂU SỬ của NGÀI VĨNH MINHTHIỀN SƯ Diên Thọ ở Vĩnh Minh, họ Vương, người Hàng Châu. Thuở nhỏ đã biết kính Phật thừa, lớn lên mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Tụng kinh Pháp Hoa hai tháng đã thuộc lòng, cảm thông được bầy dê quỳ nghe. Đến tuổi hai mươi tám, làm quan chức Chấn Tướng xứ Huê Đình, gặp ghe lưới đều mua hết cá rồi thả xuống sông. Y chỉ Thúy Nham học pháp Xuất thế gian, được vua Văn Mục khen ngợi và cho phép xuất gia, trì hạnh Đầu Đà rất tin tấn ; nhập định ở núi thiên thai ba tháng, có loài chim làm tổ trên áo. Kế đó tham học với Đức Thiều Quốc Sư (Tổ thứ nhì của Pháp Nhãn tông), được ngộ và thọ tâm ấn. Ban đầu trụ trì chùa Tuyết Đậu, sau cùng dời đến chùa Vĩnh Minh, Trụ trì mười lăm năm, học chúng có hai ngàn vị. Người đời cho là Di Lặc hạ sanh.
*
Tăng hỏi : - Thế nào là diệu chỉ của Vĩnh Minh ?
Đáp : - Đốt thêm nhang đi.
Tăng nói : - Tạ Sư khai thị.
Sư đáp : - Chẳng dính dáng gì cả.
Tăng lễ bái.
Sư nói : - Nghe bài kệ đây :
Muốn biết diệu chỉ của Vĩnh Minh,
Trước của sẳn đầy hồ nước trong.
Mặt trời chiếu thì rọi ánh sáng,
Có gió thổi thì nổi làn sóng.*
Hai vị Tăng đến tham học, Sư hỏi một Tăng : - Từng đến đây chăng ?Tăng nói : - Đã có đến.Hỏi tăng kia : - Từng đến chăng ?Đáp : - Chưa từng đến.Sư nói : - Một đắc một thất.Một hồi thị giả hỏi : - Hai vị tăng vừa rồi, chẳng biết vị nào đắc, vị nào thất ?Sư nói : - Ngươi biết hai vị này chăng ?Đáp : - Không biết.
Sư nói : - Trong một hầm chẳng có đất khác.
*
Về cốt tủy của chư Phật chư Tổ, Sư có nhắc đến Ngài Ca Diếp Ba vừa nghe kệ sau đây liền được chứng Sơ quả, kệ rằng :
Các pháp tùy duyên sanh,
Các pháp tùy duyên diệt.
Thầy ta đại Sa Môn,
Lời này luôn luôn thuyết.
Bồ Tát Long Thọ lại có bài kệ rằng :
Chẳng vật tùy duyên sanh,
Chẳng vật theo duyên diệt.
Sanh chỉ các duyên sanh,
Duyệt chỉ các duyên diệt.
Do hai bài kệ trên được biết, SẮC sanh chỉ là KHÔNG sanh, SẮC diệt chỉ là KHÔNG diệt. Ví như tánh của gió chẳng động, vì duyên khởi nên thấy động, nếu bản tánh của gió vốn động thì đâu có bao giờ tịnh được. Trong phòng kín nếu có gió thì gió ấy sao chẳng động ? Nếu chẳng gió sao gặp duyên liền khởi ? Chẳng những tánh gió như thế, tất cả pháp đều vậy, nghĩa là sắc với không chẳng khác.
Nên Duy Ma Cật nói với Bồ Tát Văn Thù rằng : “Tướng chẳng đến mà đến, tướng chẳng thấy mà thấy”.
Văn thù nói : “Đúng thế, nếu đến rồi thì chẳng đến nữa, nếu đi rồi thì chẳng đi nữa. Tại sao ? Kẻ đến chẳng có chỗ xuất phát, kẻ đi chăng có chỗ đến, cái sở thấy chẳng thể thấy nữa, ấy là ý chỉ của duyên khởi Vô sanh vậy”.
Hỏi : Bài kệ của ngài Trường Sa rằng :
Người học đạo sao chẳng biết chơn ?
Chỉ vì xưa nay nhận thức thần,
Nguồn gốc sanh tử từ vô thỉ,
Si mê cho là bổn lai nhân.
Vậy thì lìa tánh thức riêng có chơn tâm ư ?
Đáp : Trong kinh thủ lăng nghiêm phật đã vì a nan phân tích kỹ càng, người còn chẳng tin. A nan cho tư tưởng suy tìm là tâm, đã bị Phật quở. Tư tưởng suy tìm là thức, nên dùng ý thức suy nghĩ, hành theo danh tướng, thì sanh phiền não, ấy gọi là thức, chẳng gọi là tâm. “Ý” tức là ghi nhớ, tưởng nhớ cảnh xưa, sanh khởi nơi vọng,đều là vọng thức, chẳng dính dáng với tâm. Bản tâm phi hữu phi vô, hữu vô đều chẳng nhiễm, bản tâm phi dơ phi sạch, dơ sạch đều chẳng nhiễm, cho đến mê, ngộ, thánh, phàm, đi, đứng, ngồi, nằm, đều là vọng thức, chẳng phải tâm vậy. Tâm xưa vốn chẳng sanh, nay cũng chẳng diệt. Nên biết tự tâm như thế thì chư phật cũng vậy, nên duy ma cật nói : “trực tâm là đạo tràng” vì chẳng hư giả.
Sư vì Phật pháp đương thời lưu truyền ở trung quốc chẳng được đầy đủ, mà ba tông : Thiên Thai, Hiền Thủ, Duy Thức lại chấp tánh chấp tướng, bài xích lẫn nhau, nên mời pháp sư thông suốt giáo lý của ba tông hội hợp lại vấn nạn với nhau, hễ khi bị kẹt nơi đại nghĩa cao tột, thì sư dùng yếu chỉ của thiền tông để dung thông cùng với nghĩa trung đạo. Do đó, sư thu tập bí kinh đại thừa liễu nghĩa sáu chục bộ, và lời dạy của các bậc thánh hiền bà trăm nhà, gồm người ấn độ và trung quốc, soạn thành bộ tông cảnh lục một trăm quyển lưu truyền khắp thiên hạ và giúp cho giáo lý của ba tông được đầy đủ hơn.
Tăng hỏi : - Bộ Tông Cảnh của Hòa Thượng bàn luận, chỉ lập nhất tâm làm tông chỉ, cho là bao gồm vô lượng pháp môn. Vậy thì tâm gồm tất cả pháp ư ? Sanh tất cả pháp ư ? Nếu nói sanh là tự sanh, hoặc tha sanh, hoặc công sanh, hoặc vô sanh ư ?
Đáp : - Tâm này chẳng tung chẳng hoành phi tha phi tự, tại sao ? Nếu nói gồm tất cả pháp tức là hoành, nếu nói sanh tất cả pháp tức là tung. Nếu nói tự sanh thì tâm lại sanh tâm sao ? Nếu nói tha sanh thì tự còn chẳng lập, huống là có tha ? nếu nói cộng sanh thì tự tha còn chẳng có, lấy gì để cộng ? Nếu nói vô nhân sanh thì hữu nhân còn chẳng cho, huống là vô nhân !
Tăng nói : - Nếu bốn thứ sanh đó đều không, tại sao ?
Phật nói : -“Ý căn sanh ý thức, tất cả do tâm tạo !” thế há chẳng phải tự sanh ư ? Lại nói tâm chẳng độc khởi, phải nhờ duyên mới khởi, có duyên thì tư tưởng sanh, không duyên thì tư tường chẳng sanh, há chẳng phải tha sanh ư ? Lại nói nhân duyên lục căn tiếp xúc lục trần, sanh ra lục thức lãnh thọ, thành tất cả pháp, há chẳng phải cộng sanh ư ? Lại nói Thập Nhị Nhân Duyên tánh tự như vậy, chẳng do Phật, Trời, Người hay A tu la làm nên, há chẳng phải vô nhân sanh ư ?
Sư cười nói : - Chư phật ứng cơ, tùy duyên sai biệt, mong chúng sanh là thiện phá ác, khiến vào đện nhất nghĩa đế. Nói bốn thứ sanh ấy chỉ là lời phương tiện, như nắm tay không để gạt trẻ con, đâu có pháp thật !
Hỏi : - Thế thì tất cả pháp THỊ (đúng là) tâm ư ?
Đáp : - Nói THỊ tức là hai.
Hỏi : - Thế thì tất cả pháp đều lập PHI (sai) ư ?
Đáp : PHI cũng thành hai. Kinh thủ lăng nghiêm nói : “Chơn văn thù chẳng thị văn thù, nếu có thị là văn thù, nhưng ta hôm nay phi chẳng văn thù, trong đó thật chẳng có hai tướng THỊ và PHI”.
Hỏi : - Đã chẳng hai tướng thì sùng nhất được chăng ?
Đáp : - Thị phi đã nghịch đại chỉ, nhất nhì cũng trái viên tông.
Hỏi : - Vậy dùng tâm như thế nào mới khế hợp với tông chỉ này ?
Đáp : - Cảnh và trí đều quên, còn nói gì khế hợp nữa !
Hỏi : - Thế thì ngôn ngữ và suy tư chấm dứt, tâm trí cắt tuyệt ?
Đáp : - Ấy cũng là lời nói miễn cưởng, xoay chuyển theo ý của người khác, dù muốn ẩn hình mà chưa quên dấu tích.
Hỏi : - Thế nào được hình tích đều quên ?
Đáp : - Vốn chẳng triệu chứng dấu tích, có gì để quên !
Hỏi : - Con biết rồi. Khi được đại ngộ mới được tự rõ, như người uống nước lạnh, nóng tự biết phải chăng ?
Đáp : - Cửa ải chúng ta chẳng có lý rõ hay không rõ, cũng chẳng mê ngộ.
Xòe tay trình ông chẳng một vật,
Uổng công lao nhọc thuyết ngàn lối.
Chẳng phải ngường thượng căn (tin tự tâm) thì chẳng thể gánh vác việc này. Cổ đức nói : “khắp mười phương thế giới, tìm một người bạn chẳng ra, chỉ một người thừa kế ngôi Tổ, chẳng có người thứ hai”. Nếu chưa đích thân đến chỗ cứu cánh, chỉ làm nhọc tinh thần suy tư,dẫu cho nói huyền lại thêm huyền, diệu lại thêm diệu, cũng chỉ là lời phương tiện để giúp cho được vào cửa, đến khi nơi bổn phận được đích thân chiếu soi (kiến tánh), xem lại những phương tiện huyền diệu, đều là ma thuyết, vọng tâm trôi nổi, đủ thứ kiến giải khôn khéo, đều chẳng thể thành tựu viên giác, chỉ là dấu tích của hình tướng ngôn ngữ, nếu chấp lời phương tiện thì mê đạo chơn thật. Cần đến nơi đầu sào trăm thước, buông thân xả mạng mới được.
Tăng nói : Xin cho một lời dạy cuối cùng.
Sư nói :
Kẻ huyễn hóa hỏi người huyễn hóa,
Nước suối đáp tiếng vọng trong hang.
Muốn thông đạt tông chỉ của ta,
Trâu đất bước đi trên nước bằng.
Người dạy đệ tử rằng : Chánh tông của Phật Tổ là chơn Duy Thức, hễ có chỗ tin (tin Tự tâm) đều có thể dạy người. Nếu luận về cửa tu chứng, thì bậc Trưởng Lão các nơi đều nói : “Công dụng chưa so bằng chư Thánh”. Nhưng trong giáo môn cũng cho rằng, sơ tâm Bồ Tát cũng có thể do so sánh mà biết, cũng cho theo ngôn giáo của Phật mà hội, trước dùng văn giải tín nhập, sau dùng vô tư (chẳng suy tư) khế đồng, vừa vào cửa tín bèn lên ngôi Tổ. Hiện nay, theo việc thế gian trong thế giới này, dù chưa chứng ngộ, cũng có ba thứ biết về chánh pháp : Một là so sánh biết, hai là hiện biết, ba là theo ngôn giáo mà biết.
Thế nào là so sánh biết ? Cũng như cái thân hữu lậu này đều có chiêm bao, trong chiêm bao thấy cảnh giới tốt, xấu, vui, buồn rõ ràng, khi thức tỉnh mới biết nằm yên trên gường, tất cả đều do tư tưởng ý thức làm nên, đâu có thật. Đem việc chiêm bao so sánh với việc thức tỉnh thì khi thức tỉnh cũng như chiêm bao chẳng thật, cảnh giới quá khứ vị lai, hiện tại vốn là thân tướng phần của thức thứ tám, cảnh hiện tại là do minh liễu ý thức suy tư, đều do bản thức biến ra, nên trong chiêm bao với lúc thức tỉnh dù khác, đều chẳng ra ngoài ý thức, thế thì ý chỉ của duy tâm do so sánh được bài tỏ rõ ràng.
Thế nào là hiện biết ? Tức là đối cảnh phân minh, chẳng cần so sánh, cũng như hiện nay thấy các vật xanh, trắng, bản tánh các vật vốn tự trống rỗng, chẳng nói ta xanh ta trắng, đều do nhãn thức với đồng thời ý thức so đo phân biệt, cho là xanh là trắng, cho ý thức phân biệt là màu sắc, dùng ngôn thuyết làm xanh làm trắng, đều thuộc về dấu tích của ý ngôn (ngôn ngữ của ý thức) vọng tự đặt ra, vì lục trần vốn lay động, thể chẳng tự lập, tên chẳng tự gọi, một sắc đã vậy, thì muôn pháp cũng như thế, chẳng có tự tánh, đều là ý ngôn, nên nói vạn pháp vốn thanh nhàn, do người tự náo động. Cho nên khi hữu tâm sanh khởi thì vạn cảnh đều có, vô tâm sanh khởi thì vạn cảnh đều không. Nhưng không chẳng tự không, do tâm nên không, hữu chẳng tự hữu do tâm nên hữu, đã là phi không phi hữu, tức là duy thức, duy tâm. Nếu vô nơi tâm thì vạn pháp đặt ở chỗ nào ? Cũng như cảnh quá khứ đâu phải có, tùy chỗ niệm khởi bỗng hiện, nếu tưởng niệm chẳng sanh thì cảnh cũng chẳng hiện, ấy đều là cuộc sống hằng ngày có thể hiện biết, chẳng nhờ tu tập, chẳng đợi công thành. Phàm loài hữu tâm đều có thể chứng biết. Nên Cổ Đức nói : “Như người thượng căn biết pháp Duy Thức, thường quán tự tâm, biết ý ngôn làm cảnh, kẻ sơ quán dù chưa thành bậc Thánh, đã thấu nghĩa của ý ngôn, tức là sơ tâm Bồ Tát”.
Thế nào là theo ngôn giáo mà biết ? Kinh nói : “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, bản lý của vạn pháp hiện ra, hay giải thích kỹ càng về chánh tông vậy”.
Sư thừa đại nguyện lực, làm Pháp thí chủ nơi Trung Quốc, Trụ trì chùa Vĩnh Minh mười lăm năm, đồ đệ tử một ngàn năm trăm người, vào núi Thiên Thai truyền giới hơn mười ngàn người, thường thọ giới Bồ Tát cho Thất chúng, ban đêm thí thực, ban ngày phóng sanh, lục thời tán hoa, ngày đêm tu trì, đông, hạ chẳng ngừng, tiếng tăm truyền khắp nước ngoài. Vua Cao Ly sai Tăng vượt biển hỏi đạo, trong số đó có ba mươi sáu vị được Sư thọ Tâm ấn. Vua Cao Ly gởi thư xin làm đệ tử đúng lễ.
Buổi sáng ngày 26 tháng chạp năm thứ 8, niên hiệu Khai Bửu, Sư thị hiện có bệnh, đốt nhang báo cáo đại chúng, ngồi kiết già viên tịch, thọ 72 tuổi, hạ 42. toàn thân thập tháp núi Đại Từ.