Chơn Tịnh Khắc Văn

Chơn Tịnh Khắc Văn

         Hòa thượng Chơn Tịnh1 dạy chúng:

       Hai chữ Phật pháp thật khó thể hiểu được. Ai cũng có Phật mà không tin Phật của mình, chỉ nương tựa chút ít Bát-nhã tương tự2 của người xưa cho là bản tánh thường trụ bất biến. Vừa dấy niệm thì trái giác hợp trần, dính khằng không thoát ra được. Có học giả đến liền đem cái ấn nê3 lần lượt truyền thọ. Đâu biết rằng sự truyền thọ như thế không những mình lầm mà làm cho người khác lầm luôn. Môn hạ của Động Sơn không có Phật pháp cho người, chỉ có một thanh kiếm, hễ thấy học giả đến liền chặt đứt, khiến cho tánh mạng của họ không thể bảo tồn, tất cả thấy nghe hiểu biết đều dứt bặt, sẽ gặp nhau trước khi cha mẹ chưa sanh4. Thấy người đến gần liền rút kiếm chặt đứt. Tuy kiếm bén mà không thể chém người vô tội. Các ông có ai vô tội5 chăng? Nếu có ta cũng đánh ông 30 gậy.
 
Hòa thượng Chơn Tịnh6 dạy chúng, nêu ra công án:
Tam Thánh7 hỏi Tuyết Phong:
-         Cá nhảy khỏi lưới8 lấy gì ăn?
Tuyết Phong đáp:
-         Đợi ông ra khỏi lưới tôi sẽ nói cho ông nghe.
Tam Thánh nói:
-         Giả sử 1.500 thiện tri thức nói như thế, ông cũng chẳng biết. Hay tuyệt! Hay tuyệt! Vui tuyệt! Vui tuyệt! Như được diều thì không cần đến cò.
Bảo Ninh9 tôi không nói như thế, chỉ cần cầm gậy đánh đuổi ra khỏi sơn môn. Lại nói “Vui tuyệt! Vui tuyệt! Như một con cọp, chớ động đến!”.
Các thiền đức, thử nói cái vui của Bảo Ninh tôi sánh với cái vui của Tam Thánh thế nào? Hãy bước ra nói xem?
Giây lâu, sư hét một tiếng, nói:
-         Giả sử có khám xét cũng không khám xét được.
 
Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng, nêu công án:
Tam Thánh nói: “Nếu có người đến thì ta tiếp mà không chỉ dạy”.
Hưng Hóa10 nói: “Nếu có người đến, ta không tiếp mà lại chỉ dạy”.
Xem hai lão thiền sư này cơ phong bén nhọn, trộm được chút ít kế sống của Lâm Tế, mỗi vị tự phong cương giới, khí thế xông thẳng vũ trụ, khiến cho thiền tăng sáng mắt buồn cười.
Các thiền sư, hãy nói buồn cười ông ấy cái gì? Có biết nguyên do trong đó chăng? Nếu biết, mặt tình cho ông khuynh đảo tự tại, nếu chẳng biết, chỉ nhai lại cặn bã11 của Tam Thánh và Hưng Hóa mà thôi.
 
Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng:
Phật pháp không tùy thuận tình người, trưởng lão các nơi mở miệng nói: “Ta hiểu thiền, hiểu đạo”. Các ông hãy nói xem, họ đã hiểu chăng? Vô cớ ngồi trong hầm phân, lừa thần dọa quỷ. Người như thế, đánh chết ngàn người, muôn người cho chó ăn có lỗi gì?
Lại có một số người tham thiền bị họ làm mê hoặc chỉ trố mắt nhìn mà có hay biết gì đâu, dù bị dội phân lên đầu cũng không biết sợ.
Đại chúng, ai cũng là đại trượng phu cớ sao lại chịu như thế? Vậy phải làm thế nào?
 
Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng:
Trời đất và ta đồng một nguồn, muôn vật cùng ta đồng một thể, bàn chân ngang ba, dài bốn, Bắc Cu-lô-châu bốc lửa đốt cháy lông mày trời Đế-thích, Long vương ở biển Đông chịu đau không nổi. Một tiếng sấm nổ chấn động ao hồ núi sông. Ở ngã tư đường12 có một thổ phỉ đang say, tỉnh dậy, vỗ tay cười to ha hả, nói: “Gần đây trong thành Quân Vân không có giặc”. Rồi cầm cây gậy giơ lên nói: “Giặc! Giặc!”
 
Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng, nêu ra công án:
Tuyết Phong nói: “Núi Nam có con rắn lớn13, các ông tới lui phải đề phòng”. Tuyết Phong không có tướng bậc đại nhân nên con rắn không đầu chẳng chịu đi. Trường Khánh Đại An như cô dâu mới sợ cha chồng. Lại nói: “Hôm nay trong pháp đường có người tán thân mất mạng”. Vân Môn Văn Yển chống gậy đến trước mặt Tuyết Phong giả bộ sợ. Đó là vẽ rắn thêm chân rồi.
Huyền Sa Sư Bị nói: “Dùng con rắn lớn núi Nam làm gì?”. Nói kiến giải của mình phù hợp với thiền pháp mà không thoát khỏi sự cột trói trong hang ổ, lại không ai có khí khái cả. Môn hạ của Bảo Ninh chẳng lẽ không có ai có khí khái sao? Tôi không dám mong các ông lập bày tông chỉ, để nêu cao tông phong, chỉ cần chút ít tro kiến trần tục cũng khó lắm rồi.
 
Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng, giơ cây gậy lên nói:
Niết-bàn tâm thì dễ hiểu, còn sai biệt trí thật khó biết. Người xưa14 nói: “Ông có cây gậy, ta cho ông cây gậy. Ông không có cây gậy, ta cướp cây gậy của ông”.
Qui Tông15 không nói như thế: “Ông có cây gậy, ta cướp cây gậy của ông. Ông không có cây gậy, ta cho ông cây gậy”.
Đại chúng, Ba Tiêu nói như thế, còn Qui Tông thì không nói như thế. Hãy nói, ai đúng?
Khắc Văn ném cây gậy xuống, nói:
-         Là cái gì?
Giây lâu lại nói:
-         Nếu đúng, thì Long Nữ chóng thành Phật16, nếu chẳng đúng, thì Thiện Tinh rơi vào địa ngục17.
 
Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng:
Ngày nay lại đã qua rồi,
Mạng căn huyết mạch lần hồi khô khao.
Dường như cá cạn ở ao,
Khổ thêm thì có, lại nào vui đâu.
 
Thị nhật dĩ quá,
Mạng diệc tùy giảm.
Như thiểu thủy ngư,
Tư hữu hà lạc.
Chỉ có thiền định của Nhị thừa18 lấy tịch diệt làm vui. Bồ Tát học trí huệ Bát nhã lấy pháp hỷ và thiền duyệt19 làm vui. Chư Phật trong ba đời có đủ từ bi hỷ xả20 - tứ vô lượng tâm – lấy đó làm vui. Đó là cái vui chân chánh.
Thạch Sương Phổ Hội21 nói:
Dừng đi! Nghỉ đi! Lặng đi!22 Đó là cái vui tịch diệt của hàng Nhị thừa. Vân Môn Văn Yển nói: “Tất cả trí huệ thông suốt vô ngại”. Lại đưa cây quạt lên, nói: “Ông già Thích-ca đến rồi!”. Đó là cái vui pháp hỷ, thiền duyệt. Đức Sơn đánh, Lâm Tế hét. Đó là cái vui từ bi hỷ xả của chư Phật ba đời.
Ngoài ba cái vui này ra, những cái vui khác không phải là vui. Các ông hãy nói xem, tăng chúng thuộc môn hạ của Qui Tông23 tôi ở trong hay ở ngoài ba cái vui này?.
Giây lâu lại nói:
-         Hôm nay trang chủ thiết trai phạn và bố thí tiền vật. Đại chúng hãy lui vào tăng đường uống trà24.
Rồi hét một tiếng.
 
Giải hạ, Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng:
-         Có ai thưa hỏi không?
Sư bèn lấy phất tử gõ giường thiền nói: “Tạo hóa trời đất đều có âm dương, có sanh có diệt. Mặt trời, mặt trăng chiếu soi muôn vật cũng có sáng tối, có ẩn hiện. Sông ngòi trôi chảy cũng có chỗ cao chỗ thấp, chỗ thông chỗ nghẹt. Một ông vua sáng suốt trị dân cũng phải có quân thần, có lễ nhạc, có thưởng phạt. Phật pháp xuất hiện ở đời cũng có đốn ngộ có tiệm tu, có quyền thật (có phương tiện, có cứu cánh), có kiết hạ giải hạ. Kiết hạ là ngày 14 tháng 4. Mười phương thế giới không luận thánh phàm, cỏ cây cũng lại như thế”.
Sư dùng phất tử gõ bên trái một cái, nói: “Từ chỗ này đồng thời kiết hạ”.
Sư lại đưa phất lên, nói: “Tất cả đều ở trên đầu phất tử, thấy không?”.
Sư hét một tiếng, nói: “Giải hạ là ngày 15 tháng 7”.
Sư dùng phất tử gõ bên phải, nói: “Từ chỗ này đồng thời giải hạ”.
Sư lại đưa phất tử lên, nói: “Tất cả đều ở trên đầu phất tử, thấy không?”.
Sư hét một tiếng, nói: “Chư Đại Đức, trong ba tiếng hét này, tiếng thứ nhất là bảo kiếm kim cang vương25, tiếng thứ hai là sư tử ngồi xổm26, tiếng thứ ba là gậy trúc dò cỏ27. Nếu các vị hiểu được mới thể hội thiền pháp của Lâm Tế - Hoàng Bá bị đánh, Đại Ngu ăn hèo, siêu xuất thường tình.
Tuy xa cách hai, ba trăm năm, nhưng vẫn chấp nhận cho ông làm đích tử của ngài và mở bày pháp môn bất nhị, quyền hành đạo pháp chư Tổ, dẹp trừ tà ma, tuyên dương chánh pháp, chống đỡ tông môn, dựng lập giáo pháp, chỉnh đốn kỷ cương. Nếu người có đại tri kiến, có con mắt sáng suốt thì phải quyết chí chiến thắng ma quân, bất động trước mọi cảnh.
Sư hét một tiếng, nói: “Phải biết có một tiếng hét mà không có cái dụng của tiếng hét28”. Đến chỗ này phải có con mắt kim cang mới phân biết nổi. Xoay lại không có cục phân để cầm. Chư Đại đức! Hãy nói cầm cái gì?
Im lặng giây lâu, rồi hét một tiếng. 

1. Chơn Tịnh Khắc Văn đệ tử Huệ Nam Hoàng Long, đạo tràng hoằng pháp tại Bảo Phong Long Hưng gọi là Bảo Phong Khắc Văn.
2. Tri thức hư vọng.
3. Một trong ba ấn của Tông môn (ấn không, ấn thuỷ, ấn nê), vốn chỉ màu sắc in trên bùn, chỗ hoàn chỉnh hiển hiện ra, dụ chỉ bản thể bình đẳng nhất như mà hiện ra tướng sai biệt.
4. Bản lai diện mục của chúng sanh.
5. Kiếm bén chỉ chém dứt tình chấp tội nhân  - người chưa giác ngộ - người giác ngộ không bị kiếm chém.
6. Thiền sư Chơn Tịnh Khắc Văn.
7. Tam Thánh Huệ Nhiên nối pháp Lâm Tế Nghĩa Huyền, đời thứ 5 dưới ngài Nam Nhạc.
8. Dụ cho thoát khỏi sự trói buộc mà được cảnh giới giải thoát.
9. Khắc Văn từng trụ trì chùa Bảo Ninh ở Kim Lăng - Chơn Tịnh Khắc Văn.
10. Hưng Hoá Tồn Tương nối pháp Lâm Tế Nghĩa Huyền, đời thứ 5 dưới ngài Nam Nhạc.
11. Chỉ cơ phong ngôn ngữ của người khác, nếu chấp vào đó thì như bị dây leo quấn buộc khó được giải thoát.
12. Nơi nhiều người ồn náo. Dụ cho trần thế. Thiền tông chẳng lìa thế gian mà giác ngộ, phải ngay trần tục mà giác ngộ.
13. Ví dụ cơ phong bức bách người học của thiền sư, hoặc ví dụ cơ ngữ nghiệt ngã nghiêm khắc.
14. Chỉ cho Ba Tiêu Huệ Thanh, là thiền tăng hệ Nam Tháp tông Qui Ngưỡng, đệ tử Nam Tháp Quang Dũng, nối pháp Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, đời thứ 6 dưới ngài Nam Nhạc.
15. Khắc Văn tự xưng. Khắc Văn từng trụ trì chùa Qui Tông Lô Sơn. Đoạn pháp ngữ này lúc ngài trụ trì tại Qui Tông.
16. Vốn là kinh Pháp Hoa. Long Nữ là con gái Bà-kiệt-la Long Vương. Lúc 8 tuổi nghe Bồ-tát Văn Thù nói kinh Pháp Hoa mà liễu đạt các pháp, sau đó dâng bảo châu cho Phật, biến thành thân nam, tức khắc thành Phật. Xem (phẩm Đề-ba Đạt-đa). Thiền tông cho rằng đốn ngộ liền thành Phật.
17. Còn gọi là Thiện Túc. Thiện Tinh sau khi xuất gia tu chứng Tứ Thiền. Sau đó, vì thân cận bạn ác, khởi tà kiến mà đọa vào địa ngục, được gọi là "Xiển-đề Tỳ-kheo", tức Tỳ-kheo không thể thành Phật. Thiền tông dẫn chuyện này để nói rằng khi mê là chúng sanh.
18. Thanh-văn và Duyên-giác. Hai thừa này lấy tịch diệt là cảnh giới tối cao.
19. Pháp hỷ là tu tập Phật pháp mà được niềm vui; thiền duyệt là do nhập định hoặc  tham thiền được niềm vui.
20. Nói những điều làm cho chúng sanh vui, đó là từ, dẹp trừ khổ não cho chúng sanh đó là bi, thấy người khác vui mình vui đó là hỷ, tâm không chấp giữ đó là xả.
21. Tức Thạch Sương Khách Chư, nối pháp Đạo Ngô Vân Trí đời thứ 4 dưới ngài Thanh Nguyên.
22. Đây là ba thứ trong pháp môn thiền định của Thạch Sương.
  • Thôi đi. Đình chỉ tất cả động tác hành vi.
  • Dừng đi. Bặt tất cả vọng niệm.
  • Lặng đi. Lặng tất cả nghĩ tưởng mê ngộ phàm thánh.
  • Một niệm muôn năm đi. Bảo trì một niệm như như bất động.
  • Tro lạnh cây khô đi. Không còn bất cứ tình thức nào.
  • Miếu cổ lò hương đi. Khử trừ chấp trước như sạch hết tro hương trong miếu cổ.
  • Một sợi lụa trắng đi. Trong quá trình đốn ngộ Phật pháp, đối với thiên chánh tân chủ đều phân biệt rõ ràng, như một tấm lụa trắng trong sạch.
23.  Chơn Tịnh Khắc Văn từng trụ những nơi như: Kim Lăng Bảo Ninh, Lô Sơn Qui Tông và Bảo Phong...Đoạn pháp ngữ này ngài giảng ở chùa Qui Tông, cho nên lấy tên chùa mà gọi.
24. Vốn là một phương thức tiếp dẫn của Triệu Châu Tùng Thẩm, còn gọi là Triệu Châu uống trà. Nghĩa là muốn cho người học tiêu trừ tình kiến chấp trước.
25. Dụ tiếng hét thứ nhất của Lâm Tế. Tiếng hét này có thể tức khắc chặt đứt tất cả chấp trước phiền não của chúng sanh.
26. Dụ tiếng hét thứ hai của Lâm Tế. Tiếng hét này như sư tử rống, làm chấn tỉnh chúng sanh ngu tối.
27. Dụ tiếng hét thứ ba của Lâm Tế. Tiếng hét này như gậy trúc dò cỏ, xem có rắn hay không, dò xét căn cơ sâu cạn của người học
28. Dụ tiếng hét thứ tư của Lâm Tế. Tiếng hét này không có ý nghĩa xác định.

 
 
CỔ SƠN THẦN YẾN
 
Cổ Sơn1 dạy chúng:
Các Hòa thượng đều nói: “Đến các nơi tham thiền học đạo”. Chẳng hay tham cái gì? Học cái gì? Có ai tham được chăng? Nếu có, ra trước chúng nghiệm chứng xem?
Các Hòa thượng, tham thiền hay tham đạo? Tham Phật hay tham pháp thân Phật? Tham Phật pháp vi diệu hay tham việc sau khi Niết-bàn?
Nếu tham được câu này thật là lầm to. Có thể nói rằng: “Tâm hướng thượng chẳng dừng”. Những việc ấy không quan hệ2 với các Hòa thượng.
Khi ấy có vị tăng hỏi:
-         Thế nào là đại ý Phật pháp?
Cổ Sơn đáp:
-         Mửa ra đi.
Lại hỏi
-         Hễ có ngôn ngữ là xúc phạm tông phong, chẳng hay thế nào là tông phong Thiền tông?
Đáp:
-         Ngậm miệng lại!
 
Quốc sư Thần Yến ban đầu tham học với Tuyết Phong. Vừa vào cửa Tuyết Phong nắm chặt hỏi: “Là cái gì?”. Thần Yến bỗng dưng khế ngộ, đưa tay vẫy.
Tuyết Phong hỏi:
-         Ông làm đạo lý gì vậy?
Thần Yến thưa:
-         Đâu có đạo lý gì?
Tuyết Phong vỗ Thần Yến mà ấn khả.
 
Hòa thượng Cổ Sơn dạy chúng:
Việc lớn chưa sáng thì không thể thông được Thiền tông. Rất kỵ ghi nhớ ngôn cú, sống bằng ý thức. Đâu chẳng nghe nói: “Ý là giặc, thức là sóng”, đều bị chúng nhận chìm không được tự do tự tại.
Các Hòa thượng, nếu việc lớn chưa sáng, chi bằng thôi nghỉ, dừng lại để tâm thanh tịnh, không nên chấp trước vào sự vật, như thế chơn tâm mới hiển lộ. Bất đắc dĩ ta mới nói như vậy. Người xưa nói: “Ngựa chết làm cho sống lại”. Nếu người đã sáng, ta nói như thế cũng như nói mớ mà thôi.
Còn các ông thì sao? Mười hai phần giáo có dùng được câu nào chăng? Nếu dùng được, huynh đệ thuộc phần nào? Cho nên nói: “Mười hai phần giáo nói không được, phàm thánh nhiếp trì cũng không được, xưa nay thông qua cũng không được, ngôn ngữ bao hàm chẳng xong”.
Bởi vì các ông cứ vùi đầu vào kinh giáo cho nên ta mới tạm phân khai. Nếu kẻ nào chưa sáng mà nói như thế, thì hãy vả vào miệng họ.
Huynh đệ, phải phân biệt được tốt xấu rõ ràng. Có người nào phân biệt được rõ ràng, bước ra trước chúng khám nghiệm xem?
Trời lạnh, phiền các vị đứng lâu!

1.Cổ Sơn Thần Yến nối pháp Tuyết Phong Nghĩa Tồn, đời thứ 6 dưới ngài Thanh Nguyên.

2. Không quan hệ gì với thiền pháp.